Hồi Ký



Tôi sinh ra và lớn lên ở một miền quê nghèo của tỉnh Hậu Giang, sau bao lần chia tách sát nhập, ngày nay miền quê ấy là một huyện ngoại thành của thành phố Cần Thơ.
Cuộc sống ở xóm nghèo không có nhiều điều kiện học hành, vui chơi như những đứa trẻ ở thành thị. Tôi và những đứa bạn khác chỉ biết quanh quẩn ở những ao hầm lặn hụp, hay chạy nhảy trên những cánh đồng trơ gốc rạ sau vụ mùa thu hoạch.
Hồi ấy cả nước Việt Nam ở đâu cũng vẫn còn đối diện với nghèo đói và chạy bữa hằng ngày. Hậu quả của một thời kỳ bao cấp quá nặng nề làm cho nhiều miền quê thời  ấy còn gặp nhiều khó khăn. Những gia đình ở miền quê tôi ngày ấy hiếm khi được ăn một bữa cơm đầy đủ theo đúng nghĩa của nó, trong nồi cơm bao giờ cũng có thêm khoai lang, khoai mì, bo bo boặc chuối xanh đem luộc chung với gạo. Ngày này qua ngày nọ, cái điệp khúc khoai- gạo hay chuối xanh – gạo vẫn diễn ra, diễn ra thường xuyên đến mức nó ám ảnh tôi đến bây giờ, mỗi lần đi đâu chỉ cần thấy khoai luộc hoặc chuối luộc, tôi đã thấy ngán đến tận cổ.
Tuy vậy, với nhân thức của một đứa trẻ con bấy giờ, tôi chưa biết vì sao lại nghèo đói, cuộc sống vẫn trôi qua theo năm tháng với tuổi thơ thiếu thốn. Gia đình tôi lại theo đạo Phật, cha tôi là một Phật tử ngoan đạo, từ thời niên thiếu ông đã là một người sinh hoạt trong gia đình Phật tử ở Huế, khi cưới mẹ tôi về, mẹ cũng là một người mộ đạo. Nên ngay trong cuộc sống hằng ngày, tư tưởng “biết đủ” đã là kim chỉ nam cho cuộc sống của gia đình chúng tôi, dù đói khát những vẫn phải giữ cái thanh tao của kiếp người. Cho nên, ngày ấy dù gia đình nào cũng nghèo khó, nhưng ít ra họ cũng biết tổ chức thêm nhiều ngành nghề, tìm kiếm thêm nhiều cách thức để nâng cao cuộc sống, cải thiện bữa ăn hằng ngày như cắm câu, đặt lợp, gác vó…còn gia đình tôi hầu như chẳng ai làm được những công việc ấy. Các anh tôi ảnh hưởng rất lớn bởi tư tưởng Phật giáo, ít cạnh tranh với cuộc sống, sống ôn hòa và hy sinh chia sẻ. May mắn cho gia đình là ai cũng ý thức chuyện học tập là công việc đáng phải làm, là sứ mệnh bất khả kháng.
Với tôi, những cái Tết nguyên đán lúc ấy là một trong những kỷ niệm khó phai. Bên cạnh nhà tôi, dù nghèo đói như nhau nhưng đến Tết, các bậc cha mẹ cũng có cái để làm một cái Tết tươm tất, vẫn pháo nhang, hoa quả đủ màu sắc, con cái họ vẫn được mặc những bộ áo quần  thơm mùi vải mới. Khỏi phải nói cảm giác thèm thuồng của tôi vào lúc ấy đến mức nào. Những chiều 30 Tết là những chiều mà anh em chúng tôi thích nhất, vì được gần bên nhau, quay quần bên nồi bánh chưng mẹ nấu. Cái cảm giác được ngồi quanh bếp lửa, ngồi đợi chờ giao thừa làm tôi vẫn nhớ mãi, có lẽ đến cuối cuộc đời này.
Khi tôi vào tiểu học, tôi nhanh chóng khẳng định vị thế của một gia đình hiếu học, tiếp nối truyền thống của những người anh, tôi vẫn làm cho nhiều thầy cô trong trường yêu quý. Tôi là một đứa trẻ biết chăm lo việc học, lại khá ngoan ngoãn, hầu như trong suốt cuộc đời đi học tôi chưa bao giờ làm thầy cô, cha mẹ phiền lòng. Những tấm giấy khen và phần thưởng cứ đều đều đem về. Tuy vậy, nếu nói về cá nhân kiệt xuất thì không phải tôi, và tôi cũng chư bao giờ làm được việc ấy.
Thời tiểu học của tôi gắn liền với một nhóm bạn mà được xem là nhóm bạn ngoan nhất và khá nhất thời bấy giờ ở miền quê tôi. Ngày ấy, so với nhà của những người trong nhóm bạn, nhà tôi được liệt vào vùng sâu vùng xa dù cách chợ chưa đầy 1 km. Khi điện nông thôn kéo về đến xóm, tôi nhớ là khoảng vào năm 1994, đó dường như là môt cuộc cách mạng rất lớn làm chuyển biến bộ mặt nông thôn của miền quê nghèo khó ấy, khắp nơi nơi người ta mua sắm tivi, casset…để tận hưởng đời sống có ánh sáng văn minh. Tuy vậy, nhà tôi chưa thể đăng ký sử dụng điện vì không có tiền.
Những buổi học đêm dưới ánh đèn dầu lại cũng là những ký ức khác khó phai nhòa. Giờ đây, khi có nhà riêng, ngay tại trung tâm thành phố thỉnh thoảng tôi vẫn tắt hết ánh đèn điện và đốt những cây nến lập lòe, nó rất tuyệt diệu.
Khi tôi vào cấp II, trường tôi được xây và khai giảng năm học đúng vào năm đầu tiên. Còn có quá nhiều công trình dở dan. Lại chịu một trận lũ dữ dội vào năm 1995. Chúng tôi ngày ấy ngồi học trên những chiếc bàn kê cao, phía dưới là nước và cá, trông thật vui mắt. Thỉnh thoảng nghe một tiếng “phập” nhìn lại thì biết chắc ngay là tiếng cặp sách của ai đó bị rớt. Học cấp II, tôi không là đứa học sinh giỏi như trước, nhưng cũng không quá lép vế trong mắt mọi người, đôi khi tôi trở thành tâm điểm vì có một phương pháp giải đột phá của một dạng bài tập, tuy vậy phong độ ấy chỉ là tức thời, so với những học sinh ngay trung tâm thị trấn tôi thấy mình không hơn họ. Nhưng điều đặc biệt là các bạn học giỏi rất thích gần gũi với tôi, có khi họ còn hỏi tôi cách làm một dạng bài tập, nên chúng tôi rất thân nhau, và nhóm bạn cấp II của tôi được xem là nhóm tinh túy nhất của trường lúc bấy giờ, đáng nhớ nhât là năm 1997, chúng tôi là lực lượng nồng cốt đi thi học sinh giỏi cấp huyện. Ngày nay, trong số những bạn bè tôi ngày ấy ai cũng thành đạt trong cuộc sống, nghề nghiệp ổn định.
Cuối năm học cấp II, Năm 1999 – có lẽ là năm để lại nhiều nổi nhớ nhất, khi chúng tôi đứng trước nhiều cảm xúc vui, buồn, lo lắng và hồi hợp nhất, vì chúng tôi phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp lớp 9. Kỳ thi này so với ngày ấy nó khá quan trọng, ai vượt qua được sẽ đi lên huyện để học, ai không qua được thường ở lại và về làm ruộng hoặc đi học nghề, xóm tôi ngày xưa là vậy, nó trở thành một nếp nghĩ, một tập tục. Gia đình nào có con lên huyện học là cả một niềm tự hào cho gia đình. Tôi vượt qua kỳ thi khá dễ dàng với điểm số khá cao 45,5/ 6 môn. Ngày nhận giấy chứng nhận tạm thời chúng tôi gặp nhau một lần nữa, vì sau lần ấy chúng tôi mỗi người mỗi ngã, có bạn lên Long Xuyên (An Giang), có bạn về Cần Thơ …để tiếp tục con đường học vấn, riêng tôi  không đi xuôi dòng như các bạn, tôi chọn con đường ngược về Kiên Giang, nói đúng hơn là số phận đặt để tôi phải đi theo con đường ấy, đến một huyện khá xa lạ với tên gọi nghe rất ngộ nghĩnh – Hòn đất. Lúc ấy tôi rất buồn và cho rằng mình không được may mắn như bạn bè để đến một nơi đô thị phồn hoa để học, nhưng thực tế cuộc đời lại cho một đáp án ngược lại, bây giờ tôi khẳng định với bạn bè rằng, con đường đời tôi chưa hề sai lầm và rất may mắn.
Ở Hòn đất, một huyện cách xa thành phố Rạch Giá 30km về hướng Tây nam, và cách biên giới Cambodian 70km, nên ở đây khá đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, tuy vậy xét về trình độ văn minh thì huyện này khá hơn rất nhiều so với miền quê tôi sinh ra. Lần đầu tiên tôi tiếp cận với vi tính, được đi xem những buổi ca nhac với những ca sĩ có tên tuổi, được xem những trận bóng đá với sân vận động lớn có cỏ xanh mướt là niềm khát khao rạo rực của một thiếu niên đã từng có ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá.
Tôi nhanh chóng xác lập các mối quan hệ với bạn bè, vì ít hay nhiều tôi vẫn đứng vào hàng ngũ thượng lưu vì mang danh nghĩa “người ở một tỉnh khác về”, tôi có anh trai làm cán bộ huyện, chị dâu giảng dạy trong trường phổ thông, tất cả những thứ ấy làm “hữu danh” nhưng sự thật là “vô thực”.
Những tháng ngày ở Hòn Đất có rất nhiều dấu ấn để lại cho đến ngày nay. Hòn Đất ngày ấy vẫn còn mảnh đất khá lạ lẫm, người ta chỉ biết đến Hòn Đất vì địa danh này đã từng một vài lần được nhắc đến trong văn học, lịch sử vì nó là nơi xảy ra nhiều cuộc càn quét của Mỹ trong thời chiến tranh.
Tôi được gửi vào một lớp học chọn, nghĩa là lớp khá nhất của trường. Ở đây cũng là sự tụ họp con cái của những người khá giả hay có địa vị xã hội trong khu vực, tuy nhiên điều hay nhất là không một ai ỷ thế cậy quyền, mà học rất giỏi và ngoan hiền. Tôi có rất nhiều người bạn, đó là những người đã giúp tôi rất nhiều khi tôi ở mảnh đất này.
Ba năm cấp III trôi đi một cách bình an, nhưng đó cũng là ba năm làm tôi thay đổi khá nhiều trong tư tưởng, quan điểm sống, đã có nhiều lần tôi đối diện với sự lo toan, thiếu thốn, hầu như ba năm học ấy là 3 năm mà tôi đến lớp với tâm lý lo lắng rất nhiều, tôi là người ý thức trong học tập nhưng những tháng đầu tiên về trường tôi không nghe được giọng nói của các giáo viên ở đó, đa phần họ đến từ các tỉnh Nghệ An và Hà Tỉnh, một số ở Thái Bình, Nam Định.  Tôi rất khổ sở và dần mất kiến thức căn bản. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến tôi bắt đầu sợ những môn khối tư nhiên và không tự tin vào kiến thức của mình.
Tôi ở tập thể với một người anh trai làm cán bộ trong huyện, thời đó đồng lương công chức không đủ cho ai có thể tự nuôi sống chính mình, huống chi thêm một người, nhưng anh đã cố gắng cưu mang tôi. Chúng tôi ngày ấy ăn cơm rất khổ, chỉ có một món duy nhất cho một bữa ăn, còn rau thì xung quanh rất nhiều, có thể hái về ăn và xem đó là món thứ 2. Tôi không phải là người thanh niên tháo vát, không biết tìm cách cải thiện bữa ăn, bây giờ nghĩ lại thấy mình nuối tiếc. Trung tâm Bồ dưỡng chính trị huyện Hòn đất khi đó có một khu tập thể cho cán bộ ở, và đó là nơi gắn quá nhiều kỷ niệm với tôi, ở đó có những người hàng xóm rất tốt bụng, sống vui vẻ. Tuy nhiên do ai cũng có khó khăn về thu nhập, nên đôi khi  sự quan tâm thì có đó nhưng hỗ trợ thì chưa thể.
Năm tôi lên lớp 11. 12. Ở khu tập thể ấy có thêm một vài đứa học sinh nữa mà tôi gọi là em, nhờ có các em, cuộc sống của tôi đỡ đối mặt với những nổi buồn trong học tập, và áp lực từ những vấn đề tạp nham không tên khác, mà đối với một đứa đang ở độ tuổi thiếu niên rất dễ suy nghĩ lệch lạc.
Từ năm học cuối cấp ( 2001-2002) cũng là những năm có những bước ngoặt lớn trong cuộc đời.
Tôi vượt qua kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và đứng trước cuộc thử thách lớn là kỳ thi đại học, ngày ấy kỳ thi đại học có một ý nghĩa rất lớn đối với mỗi chúng tôi, không có nhiều ngành nghề và trường đại học cho chúng tôi lựa chọn như bây giờ, toàn Đồng bằng sông Cửu Long ngày ấy chỉ có hai trường đại học công lập uy tín là trường đại học Cần Thơ và đại học An Giang. Tôi quyết định làm hồ sơ vào ngành toán của đại học An Giang, vì lúc ấy đây là ngôi trường mới thành lập, gần nhà, và đứng đầu trường là một ông hiệu trưởng rất nỗi tiếng giáo sư Võ Tòng Xuân.
Chúng tôi chỉ biết kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học trước kỳ thi đại học khoảng một tháng, ngay đó bạn bè tôi nô nức khăn gói lên đường tìm những trường đại học, những trung tâm luyện thi đại ở các thành phố lớn như Cần Thơ, Hồ Chí Minh…thì tôi lại chấp nhận ở nhà, nhưng cũng không được bao lâu tôi cũng nằng nặc xin anh trai cho mình ra thị xã Rạch Giá để luyện thi, vì  ở nhà không an tâm chút nào.  Tôi có hơn 300.000 đồng mà anh trai mượn của ai đó cho tôi đón xe ra thị xã, đường ra thị xã chỉ khoảng 30km nhưng đối với tôi nó rất xa lạ, vì Rạch Giá so với Hòn Đất là một khu đô thị sầm uất, xe cộ  đông đúc, phố xá thênh thang…ngay lập tức một cảm giác choáng ngộp đã ập vào mắt một đứa học sinh mới rời ghế nhà trường. Bước xuống xe tôi bơ vơ như một con nai từ rừng. Tôi hỏi thăm đến trung tâm luyện thi đại học của trường Huỳnh Mẫn Đạt. Cầm trên tay giấy biên nhận đóng lệ phí hết 280.000đồng, còn lại không được 100.000 đồng, bấy giờ tiền với tôi chưa phải là vấn đề lớn, không quan tâm. Tôi xin vào một ngôi chùa Khmer để ở một tháng luyện thi, nhưng ở đây tôi không thể tâp trung học được, lại ăn uống lạ lẫm, khác khẩu vị kết quả là đến trước ngày thi 5 ngày tôi bị lên cơn sốt nóng lạnh. Đón xe về Hòn đất trong cơn ho sặc sụa, tôi sa xuống giường và ngủ li bì cho đến khi anh trai tôi đi làm về, trong cơn mê man tôi có biết anh đã rất lo lắng, đi hái lá xông thuốc cho tôi. Nhưng tôi vẫn không thể hết được cái bệnh oái oăm ấy. Nằm ở nhà được 2 ngày tôi phải gắng dậy và khăn gói lên trường đại học để tham gia kỳ thi. Anh hai là người đưa tôi đến trường, trong tất cả 3 môn thi đại học, mỗi môn 180 phút, anh đều đứng ngoài nhìn qua cổng sắt hướng về tôi, tôi quá mệt lại ho liên tục, đến nổi cán bộ coi thi phải đưa tôi ra ngoài ho để không ảnh hưởng đến các thí sinh khác.
Một tháng sau, tôi cầm kết quả đại học trên tay và rất buồn mặc dù đã đoán được kết cục ngay sau kỳ thi kết thúc.
Tôi quay về Hòn đất, nơi mà tôi có thể bám víu vào một anh nào đó sống tạm qua ngày. Tất nhiên nhiều kế hoạch cho tương lai của tôi được các anh hoạch định, cuối cùng chon hướng đi là xin việc làm, gác lại mọi mơ ước về chuyện đi luyện thi để đeo đuổi con đường học tập.
Tôi có nghe các anh phông phanh về công việc mà các anh xin cho tôi, là một cơ quan nhà nước ở huyện hẳn hoi, thế nhưng cụ thể như thế nào thi tôi chưa biết.
Một đêm trung tuần tháng 9 năm 2002, người anh thứ sáu đưa tôi xuống nhà một người đàn ông, nghe nói là giám đốc của cơ quan mà tôi sẽ làm. Trên đường đi tối mịt, ngồi trên chiếc xe 67, tôi như muốn nghẹn lời.
Căn nhà khá lớn, nằm trong một vườn cây, có tường rào kiên cố, nội thất căn nhà khá đầy đủ cảnh tượng ấy đập vào mắt tôi và nghĩ rằng ông sếp mình khá giả thế, chắc cơ quan mình làm cũng khá giả, sang trọng lắm.
Dáng người đàn ông bệ vệ bước ra chào chúng tôi, nhưng không quá thân tình, mà có vẻ kiêu ngạo. không dáng vẻ thông thái, mà giống một quan quan tham hơn, tôi nghĩ thê!
Ông chào và đặt ngay vấn đề, công việc bây giờ khó tìm lắm, mới học xong 12 thì cũng chỉ là vỡ lòng thôi,  hai thằng con tôi đang học đại học ở thành phố Hồ Chí Minh hẳn hoi, nhưng cũng chưa dám chắc là lo cho nó có việc làm tốt được đây!  Câu nói ấy làm tôi nhớ mãi vì nó giống như một cú vỗ mặt mà ông ấy dành cho tôi ngay buổi đầu gặp gỡ. Ông hỏi tôi biết “chạy vỏ lái” không? Vì công việc của tôi là phải biết làm chuyện này, anh trai tôi lắc đầu. Người đàn ông nói tiếp vậy thì phải tập chạy. Sáng mai vào cơ quan luôn, ký hợp đồng.
Anh tôi cám ơn và ra về, trên đường về anh không nói gì, nhưng tôi biết anh đang rất lo lắng cho tôi, còn tôi vẫn chưa hình dung được công việc cụ thể của mình là như thế nào.
Công việc của tôi không hề gắn liền với nghiên cứu khoa học hay giấy tờ gì như tôi hằng mơ ước, cũng không được làm ngay tại cơ quan của huyện mà là vào giữ rừng trong những cánh đồng khá xa, cách đường quốc lộ 10km, không có đường xe chạy, phải đi bằng vỏ lái. Ở đó có những chốt đóng như bộ đội ta ngày xưa lập trạm kiểm soát, tôi và một thằng bạn nữa vào ở trong ấy. Tôi không biết phải dùng lời văn nào để tả về cảnh vật nơi ấy, nó là một căn nhà nhỏ khoảng 15m2, ngoài căn nhà ấy ra không có một căn nhà nào nữa,và bên kia sông là những trại, láng của người dân trồng rừng, họ dựng lên để tránh mưa tránh nắng…con sông là dòng nước nhiễm phèn nặng, hai bên bờ không có một cây nào có thể sống được ngoài trừ cây tràm. Và chính thức công việc của tôi là giữ rừng tràm theo đề án trồng rừng 337 của Chính phủ mà sau này đủ nhận thức tôi mới biết. Con sông ấy là con KH9 chạy dài từ huyện Hòn Đất đến vùng tứ giác Long Xuyên. Bao quanh hai bên bờ con sông ấy trước đây là những khu rừng tràm lâu năm, sau đó người ta có dự án phá rừng tràm để lấy đất làm nông nghiệp, nên dọc hai bên bờ con sông rừng tràm lần lượt bị khai thác và bán lại cho một nhà máy sản xuất giấy của Đài Loan đóng ngay trên bờ sông KH9, khi đó đã có một số người phản đối dự án này, trong đó có GS. Võ Tòng Xuân, một nhà khoa học nông nghiệp xuất sắc, nhưng việc phá rừng tràm vẫn xảy ra, và hậu quả cuối cùng là đất vẫn không thể canh tác nông nghiệp được, mà còn làm cho các vùng đất trước đây làm nông nghiệp được bây giờ cũng bị nhiễm phèn, nhiễm mặn theo.
Sau một thời gian nhận thấy không đạt hiệu quả,  người ta đã bắt đầu có những dự án trồng lại rừng.
Tôi không thể nào quên được những lần băng vỏ lái đến những cánh đồng đầy gốc tràm đã khai thác còn trơ lại, có khi chúng tôi phải đi bộ hoặc lội ruộng đến vài ba kilomet để lấy số đo diện tích của một cánh đồng.
Chiều về là lúc tôi thấy buồn nhất, nổi nhớ những người thân, bạn bè hay thậm chí chỉ muốn nhìn một gương mặt người, một gương mặt xa lạ thôi cũng thấy đủ. Khi đó, vào đêm khuya tôi rất thích nhìn những ánh đèn rọi từ những chiếc xuồng câu xa xa, đó là những chiếc thuyền đi cấm câu, giăng lưới vào những khu vực cấm, nhưng trên thực tế chúng tôi không hề cấm họ vào khu vực ấy, bởi vì họ là những dân nghèo chỉ có công việc bắt cá là công việc chính kiếm ra thu nhập, họ rất hiền và thân thiết với chúng tôi, mặt khác nếu có cấm họ vào thì họ vẫn vào vì cánh đồng nước để trồng tràm thì rất rộng, nhưng chúng tôi chỉ có 2 người, không tài nào kiểm soát hết được, đó là chưa kể việc nguy hiểm là rất lớn có thể xảy ra nếu chúng tôi quá khắt khe. Để đáp lại sự dễ chịu của chúng tôi, họ thường ghé vào chơi tại chốt và để lại một ít cá, mà đó là những con cá to nhất, ngon nhất. Lúc ấy chúng tôi thường nấu cháo cá khuya, rất vui. Giờ thì không nhớ nỗi họ là ai và tên gì nữa, đúng là có những người chỉ đi qua cuộc sống của chúng ta dù chỉ một lần nhưng ta vẫn nhớ mãi và cũng không biết đến bao giờ mới gặp họ lại vì không biết tìm họ nơi nào.
Khi trời vào đêm tôi thường đọc sách đến khuya, đó là quyển sách lịch sử, tôi đọc ngấu nghiến vì thật ra tôi đang chuẩn bị cho một kỳ thi đại học trở lại vào năm sau, tuy nhiên tôi chưa thể hiện rõ quyết tâm cho lắm, mà chỉ là ước mơ được quay lại ghế nhà trường một dịp nào đó, nếu như có thể. Khi tôi buông sách thường là vào 12h hơn, lúc ấy tôi hay nghe những bài hát từ máy casset của những láng trại bên kia sông vọng qua, tôi thích nhất lời một bài hát “không giờ rồi em ngủ chưa em?Hơi đâu mà lo lắng thâu đêm…”.
Tôi nhớ về một cô bé, con của một người trồng rừng, cô trong trắng, trinh nguyên tựa như một bông hoa giữa rừng chưa hề có ai ngắm, cũng chưa hề có một loài côn trùng nào tiếp xúc. Chỉ có điều cô bé ấy chưa từng đến lớp học, cô không biết chữ. Nhưng dù sao một giọt nước bé bổng giữa trưa hè nắng hạn cũng đủ làm lữ khách tha phương thấy dễ chịu trong quãng đường đơn độc. Nhưng với kẻ lữ khách ấy, hắn là một chàng trai mới lớn, cũng trong sáng, chưa hề bẩn đục trong suy nghĩ, chưa hề quyến luyến hay mê mẫn sắc đẹp thế gian, hắn có lý tưởng riêng, mục tiêu riêng mà hắn đặt ra đó là con đường nào dẫn đến cổng trường đại học, thế nên hắn gác tất cả mọi chuyện lại đằng sau.
Bốn tháng ở rừng,dường như cái ngưỡng chịu đựng của tôi cũng đã hết, tôi thấy bức bối trong lòng khi mà nghĩ về quãng đường phía trước và nhìn lại hiện tại, tôi vẫn là kẻ trắng tay.
Tôi quyết định đón một chuyến tàu chở củi, quá giang họ ra đường lớn về trung tâm huyện.
Đó là đêm Noel năm 2003, sau chiếc xe honda ôm tôi như muốn vỡ òa cảm xúc khi thấy lại ánh đèn thị trấn, thấy được từng mặt người đưa nhau đi lễ nhà thờ, chỉ một điều bé nhỏ ấy vậy mà tôi lại khát khao vô đổi, không khát khao sao được khi mới chỉ 19 tuồi đầu, tràn trề sức sống thế mà bị giam hảm trong một khu rừng hiu quanh, có người trách tôi bằng sự so sánh với một người lính đóng vùng thời kháng chiến cho rằng thời chiến tranh bao lớp người ra đi chỉ trạc tuổi tôi, vậy mà giờ đây có bấy nhiêu ấy mà chán nản. Tôi biết, tôi không thể bằng họ, nếu như tôi sống được như họ, cao cả như họ và dập tắt mọi ước mơ tôi sẽ cố gắng làm theo họ.
Sáng hôm sau, tôi quay lại rừng một lần nữa để thu gom áo quần và sách vở, không một ai hiểu được tôi đang nghĩ gì và làm gì, cả cánh rừng bạt ngàn gió lộng đưa chân tôi xa biệt nơi ấy, những thứ bình dị thường ngày tôi vẫn gặp giờ sao quá đỗi yêu thương, căn nhà nhỏ, cái sân với lớp đất ố vàng vì phèn một màu trơ lên bám gót chân tôi, hai bên bờ sông những gốc rễ tràm đưa mình ra khỏi mặt đất…tất cả như muốn nhìn tôi lần nữa, vì chúng biết rằng tôi đi xa nơi này.
Ngày hôm sau, ông giám đốc dự án gọi tôi lên cơ quan nói chuyện. Thật ra thì cũng chẳng nói gì, ông chìa ra bản hợp đồng và kêu tôi ký vào mục tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng, tôi hiểu ý ông và làm ngay, một thoáng buồn trong tôi trỗi dậy, vì tôi không biết cuộc đời tôi phía trước sẽ như thế nào khi mọi thứ bây giờ là một con số không tròn trĩnh. Một vài người trong cơ quan nhìn tôi với đôi mắt lơ là, họ không thèm buông một câu hỏi han, đời là vậy tôi hiểu hơn khi người ta sợ dính liếu vào những việc bất lợi cho họ.
Không có lựa chọn nào khác là chuẩn bị hành trang về nhà.
Căn nhà ở thị trấn Vĩnh Thạnh thuộc thành phố Cần Thơ vốn nhỏ hẹp để có thể chứa 6 người nay lại có thêm tôi. Mẹ tôi không biết những gì đã xảy ra với tôi, anh 2 Dũng cũng là người ít can thiệp vào đời sống của ai, ai như thế nào cũng được nên anh cũng không hỏi tôi chuyện gì, nếu thích thì tôi kể, chứ anh không hỏi, vợ anh thì là người phụ nữ chỉ lo làm ăn nên càng không cần biết chuyện, 3 đứa cháu nhỏ đang tuổi ăn học.
Trong cái nhìn của một người mẹ, tôi hiểu bà đang lo lắng cho tôi, nhưng không cách nào, mẹ là người nông dân nghèo, không địa vị, không chức quyền, lớn tuổi và không có nghề nghiệp ổn định. Tôi hiểu rằng, không nên ở đây được, mình sẽ đi, đi một nơi nào đó để không còn thấy vẻ lo toan của mẹ, tránh thêm gánh nặng cho người anh trai và chị dâu phải làm lụng nuôi 3 đứa con nhỏ.
Sài Gòn- Chốn đô hội!
            Sài gòn diễm lệ và náo nhiệt đúng như những gì mà người ta hay nói về nó, bước xuống bến xe Miền Tây cũng đúng vào buổi trưa nắng chói chang, một chàng trai quê mùa 19 tuổi đời với tôi là một sự ngây ngô đến tội nghiệp, tôi đã biết gì về nơi đây đâu. Lật trong sổ tay của mình, ghi rõ Chùa Phổ Quang, quận Phú Nhuận.
            Chùa Phổ Quang là một ngôi chùa lớn của thành phố Sài Gòn, tuy nằm trong một hẻm sâu nhưng nơi đây có thể cư ngụ hàng trăm vị tăng sư đến từ các tỉnh lẻ theo học, tôi đến đây để tìm gặp người anh trai cũng xuất gia nơi này, thầy Lệ Nhật-là người anh thứ 4 trong gia đình theo cách gọi của người Nam bộ.  Bác tài xế lái xe đa ôm quá biết ngôi chùa này và trực chỉ chạy thẳng một mạch, luồng lách qua những con hẻm lòng vòng để đến trước cổng ngôi chùa, được sơn màu bạc khắc nhiều chi tiết hoa văn của rồng. Tôi liên hệ với một vị thầy, thầy cho biết thầy Lệ Nhật đi học chưa về, khoảng 4h chiều quay lại gặp. Sự nhiệt tình và đôn hậu của những người trong chùa làm tôi thấy vui. Tôi thả bộ trên những con hẻm gần chùa, để nhìn Sài gòn như thế nào, và nó quá khác xa với miền quê tôi sống, nhà cửa san sát, nhỏ hẹp, chật chội, một vài người nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét cẩn thận.
            4h chiều, anh tôi đã về và nhanh nhảu gọi tên tôi khi thấy tôi lãng thản bước về chùa. Anh dắt tôi đi vào nhà bếp ăn cơm. Sau đó về phòng các tăng chơi và sắp xếp một chỗ nghỉ. Đêm đầu tiên tôi ngủ ở một thành phố lớn.
 Ở Phổ Quang được hai đêm, tôi được “di trú” về nơi ở khác, chùa Giác Ngộ-nơi mà sau này tôi mới biết là ngôi chùa lớn nhất nhì của Sài Gòn, chùa nằm ngay mặt tiền, chiếm lĩnh một vị trí rất đẹp trên đường Nguyễn Chí Thanh, Quận 10. Đây là ngôi chùa mà người anh kế tôi đang ở nhờ và xin đi học đại học bên ngoài, tôi được dắt xuống gặp thầy phó trụ trì để xin phép được ở vài ngày thăm anh trai. Thầy gật đầu nhìn tôi không nói gì, nhưng cái nhìn và khuôn mặt toát lên vẻ thanh cao và đầy ngôn ngữ thân thiện, có lẽ thầy nghĩ rằng, mọi sự gặp gỡ trên thế gian này dù dài hay ngắn ngủi, dù chỉ vài phút thôi cũng là duyên số nhau từ kiếp trước, là phước đức cho một người vướng nhiều bụi trần tục luỵ như tôi, nên dù ở vài ngày cũng là quá tốt cho tôi bới đi những sân hận, lăng xăng của cõi lòng.
Khác với Phổ Quang, Giác Ngộ có nhiều tăng sĩ trẻ tuổi và nhiều chú Tiểu  cũng ở đây, do tuổi đạo chưa nhiều, công phu chưa cao nên các tăng sĩ này cũng rất thoải mái, chúng tôi nói chuyện vui vẻ và dường như ít có khoảng cách.
Đêm đầu tiên ở chùa Giác Ngộ, tôi đứng trên sân thượng và nhìn xa xăm về thành phố, nơi có quá nhiều toà  nhà cao tầng san sát nhau như chính con người ở nơi đây, đông đúc, chen lấn nhau, những ngọn đèn xanh đỏ réo rắt chớp tắt liên hồi, trang điểm thêm màu sắc rực rỡ cho một thành phố từng được xem là hòn ngọc Viễn đông, nó dường như không phút tỉnh lặng. Quả thật Sài Gòn không có phút tỉnh lặng, đã hơn 12h khuya nhưng nó vẫn náo nhiệt ồn ào, vẫn lốc cốc leng keng, nào xe thồ, xe honđa rú ga ầm ĩ, tiếng rao hàng của những đứa bé mà trên lưng nào bánh bao, bánh mì, tiếng gõ nhịp của người bán hủ tiếu dạo, tiếng lốc cốc của anh đấm bóp massage di động, tất cả nói lên đặc trưng của thành phố này.
Mãi lan man với những suy nghĩ không định hướng, tôi thả tư tưởng mình đi rong không kìm hãm,  thì anh tôi xuất hiện phía sau, anh là anh kế tôi - tên Hậu, lên đây ở nhờ chùa để có thể theo học. Ngày ba má tôi dắt nhau từ miền Trung vào miền Nam, thì hai anh em chúng tôi chưa ra đời, đến 1979 anh được sinh ra và 1983 là tôi, nên ba má quyết đặt tên cho hai thằng là Hậu và Giang, tên cũ của thành phố Cần Thơ bây giờ.
Anh hơn tôi vài tuổi, cũng khá lận đận chuyện học hành, nên anh hiểu tôi nhất nhà và giờ đây anh đã là sinh viên của một trường đại học quốc gia- ĐHKH-XH và NV Tp.HCM. Đó là mơ ước của rất nhiều người, với tôi càng đặc biệt hơn.
Anh cùng nhìn theo hướng mắt của tôi, xa xăm và dịu vợi. Anh đánh dấu sự xuất hiện của mình với tiếng thở dài, anh bắt đầu câu chuyện với những khó khăn, những điều mà sự thật bấy lâu nay chưa có dịp nói, anh tâm sự rất thật rằng, ai cũng mong học đại học, điều ấy rất tốt, nhưng cánh cửa ấy quá nhỏ hẹp, không phải ai cũng có thể chen lấn. Với gia đình ta lại càng khác, cái nghèo khó không là cái tội, nhưng nó kìm hãm nhiều thứ.
Anh nhìn xuống con đường Nguyễn Chí Thanh và nói, trong hàng trăm người qua lại trên con đường ấy, nào xiêm áo, xe cộ đời mới, tiền túi rủng rỉnh…nhìn lại mình, một cây cột chùa cũng không làm được. Nhưng chắc gì trong hàng trăm người ấy, họ đều hạnh phúc hay hài lòng với thực tại, có bao nhiêu người biết mình đang mắc bệnh? Nên hạnh phúc không phải đi tìm đâu xa, không có ở đâu cả nếu mình không bằng lòng với hiện tại. Giọng nói trầm đều của anh dần dần đi vào không gian tĩnh mịch của  đêm thành phố, ngày mới lại bắt đầu, nhà nhà bắt đầu thức giấc, người người bắt đầu ra đường, bận rộn và lo toan hơn cho ngày mới, ngày mới hôm nay sẽ có gì khác hôm ngày cũ hôm qua?
Ở tại chùa Giác Ngộ ít hôm, cũng phải tìm nơi mới mà đến.
Thông qua các mối quan hệ bạn bè, ông anh trai thứ bảy cũng tìm được một căn nhà trọ mới cho tôi. Tôi lại tiếp tục di chuyển, lần di chuyển này tôi hoàn toàn không muốn chút nào vì đã không được sống gần các anh nữa. Trên chiếc cub 50 không kèn, không nhan, không giấy tờ…hai anh em chúng tôi lướt qua nhiều ngõ ngách, đến trước một căn nhà nhỏ, nơi có sẵn không dưới năm người cùng trọ, đó là nơi ở thứ ba của tôi.
Lần này, tôi đã thấy mệt mõi với những suy nghĩ lo toan, nhưng bồng bột nông nỗi đã bắt đầu cho tôi sự trãi nghiệm, một chút tiếc nuối khi từ bỏ mọi thứ quá sớm, những cái được bao bọc quanh mình; khi hình ảnh anh bảy của tôi lấy chiếc xe cub 50 chạy về chùa, bỏ tôi lại một căn nhà trọ với những người xa lạ, mặc dù họ là những người bạn đại học của anh trai tôi, đó là anh Thức, anh Sơn…những người bạn thân của anh trai tôi, nhưng cảm giác chơi vơi vẫn bắt đầu…
Ở được một ngày, trôi qua trong hai bữa cơm nghèo của sinh viên, và tôi vẫn chưa an cư, tôi cũng chưa xác định rõ ràng là mình lên Sài Gòn để làm gì, đi kiếm việc làm thì cũng chưa sẵn sàng, công việc nơi đây đòi hỏi một con người nhanh nhạy và khéo léo, những kỹ năng này chưa có trong con người mình; còn đi ôn thi thì đó là mộng lớn rồi, nhưng mình cũng chưa dám đăng ký vì học phí khá cao, còn tiền ăn và trọ nữa, mặt khác chưa dám chắc là sẽ đậu…mọi thứ nó cứ xoay chuyển liên hồi trong đầu mình, căng thẳng suốt mấy ngày. Một lần, hình như là buổi tối của ngày thứ ba tôi ở đây, có một chuyện lớn xảy ra, các anh trong nhà trọ tổ chức uống rượu, tôi thì không tham gia, bởi vì tôi không biết uống , mặt khác tôi muốn có nhiều tỉnh táo để suy nghĩ cho công việc của mình. Gần tàn cuộc vui, họ xảy ra cãi vả, hai người trong số họ xông vào nhau như những chiến binh hùng dũng, những cú ra tay chan chat, tiếng ly chén trên mâm nhậu rơi rớt loảng choảng, nhưng điều tôi bất ngờ là những người còn lại trong mâm nhậu không hề phản ứng, họ để mặc vụ ẩu đả. Tôi thoáng nghĩ họ thật vô tâm, bạn bè với nhau mà sống như thế sao được, vậy là bằng tất cả sức mạnh của chàng thanh niên 19 tuổi, tôi nhảy vào giữa vừa giang hai tay đẩy hai người ra vừa la lớn để ngăn cản, nhưng ý định đó của tôi chưa kịp thực hiện thì một cú đấm như trời giáng vào đầu tôi, tôi mất thăng bằng và ngồi hụy xuống đất. Hai bên tạm thời ngưng cuộc chiến để nhìn tôi, cú đánh nhầm đó không biết được air a đòn, nhưng không ai đến để hỏi thăm tôi. Giờ đây tôi mới hiểu, sự vô tình của những người trong phòng trọ trước cuộc ẩu đả là hoàn toàn có cơ sở. Câu chuyện này đến tai anh trai tôi, thế là một lần nữa tôi lại phải di chuyển.
 Lần di chuyển đến nơi ở thứ tư – Sau những chuyến hỏi han  thăm đường, chúng tôi mới đến được căn nhà, tôi cũng không còn nhớ địa chỉ rõ ràng, chỉ biết đó là căn nhà 3 tầng, tầng trệt chủ ở, tầng 2 một ít phòng cho nữ và phòng 3 là căn phòng lớn dành cho nam. Tôi được hướng dẫn là ở chung với 2 người con trai khác, trong đó có một anh tên Thế là bạn của anh trai tôi, nghe nói anh Thế quê Bến Tre hay Tiền Giang gì đó, vừa đi làm vừa đi học, thu nhập có được còn gửi về cho gia đình…Trong suy nghĩ tôi, bắt đầu hình thành một mẫu người lý tưởng mình cần học hỏi.
Tôi bắt đầu nhớ nhà, nhớ người thân và thoáng chút gì đó tiếc nuối cho hành động đã qua, khi ở một môi trường mới, không có người thân bên cạnh chúng ta thường dành nhiều thời gian cho cuộc sống nội tâm là vậy.
Ba ngày trôi qua ở căn nhà thuê, tiền trong túi bắt đầu cạn dần. Sự thật là kể từ những ngày lên Sài gòn, tất cả những chi phí của tôi đều từ khoảng tiền dành dụm khi còn làm ở quê, lúc đó tôi đã sắm được một chỉ vàng, và bây giờ nó dần hết.
Một buổi chiều, ông chủ nhà lên báo với tôi là anh trai tôi đến thăm. Tôi như vỡ òa cảm xúc và nhảy tót xuống phòng khách, anh tôi đến thăm và báo một tin, không biết nên mừng hay buồn, đó là việc các anh trai tôi ở Hòn Đất đã liên hệ với Huyện ủy cho tôi một suất đi học ở trường Chính trị Kiên Giang trong chương trình đào tạo cán bộ công tác Đoàn, nói thật đoàn thanh niên với tôi cũng chưa phải là một hướng đến cuối cùng, tôi có năng khiếu đoàn thật đó, nhưng để xác định nó là sự nghiệp của mình thì tôi chưa nghĩ đến. Nhìn nét mặt anh trai tôi rạng rỡ niềm vui, tôi biết mình nên quay về là phù hợp nhất trong thời điểm này, một mặt để giảm bớt gánh nặng cho anh, mặt khác tiền tôi đã hết. Tôi lên lầu thu gom sách vở áo quần, một lần nữa cùng anh trên chiếc xe 50 quay về lại chùa Giác Ngộ.
Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy rất sớm, một chiếc xe khách lại trước cổng chùa đón tôi. Vậy là xong, tôi từ giã Sài Gòn,mảnh đất nhiều hứa hẹn nhưng cũng không dễ dàng để hòa nhập với một con người có tác phong ruộng lúa như tôi
Chia tay Sài Gòn trên chiếc xe khách, tôi nhìn qua lăng kính, ngắm những căn nhà lầu cao hai bên đường, và tôi biết mình nên quay lại với vùng quê của tôi.
Mảnh đất Kiên Giang, lại một lần nữa đón tiếp tôi.
Cầm quyết định của Huyện ủy Hòn đất để đi học lớp Nghiệp vụ Đoàn, tôi ra Rạch Giá. Không có nhiều tâm trạng như những chuyến đi xa trước đây, lần này tôi ít suy nghĩ hơn và đã hướng đến một sự ổn định cho tương lai. Lần đi này tôi không mang theo bất kỳ quyển sách nào để học. Với tôi, lúc đó tất cả là lớp Nghiệp vụ Đoàn.
Nhận phòng và tài liệu cho môn học tại phòng Tổ chức, tôi bắt đầu tưởng tượng ra một viễn cảnh tốt đẹp cho chuyện học, chương trình học là một năm đào tạo cho trình độ trung cấp chính trị, nữa năm là đạo tạo kỹ năng đoàn. Như vậy sau 1,5 năm là tôi có 2 tấm bằng, sau đó tôi có thể học lên cao hơn, đó là những ước mơ của tôi. Bên cạnh đó, tôi còn nghe phông phanh nhiều nguồn rằng nếu học tốt sẽ được trường giữ lại đưa đi đào tạo giảng viên cho trường. Tất cả những gì tôi biết được, đã trở thành động lực cho tôi trong thời điểm đó, nó có tác dụng một phần nào cho sự cố gắng để học.
Trường chính trị Kiên Giang ngày đó chưa được dời về trụ sở mới như bây giờ, nó thuộc phường An Hòa, sau này trường đã chuyển giao trụ sở cho trường Cao đẳng Nghề, thời điểm đó trường xuống cấp trầm trọng, nhiều phòng óc thiết bị cũ kỷ, tường rào dễ xâm nhập. Phía trước trường là tuyến đường chính của Rạch Giá, con đường Nguyễn Trung Trực, phía sau trường là một vườn dừa có trên 100 gốc được trồng trước giải phóng, khuôn viên trường chỉ có một dãy phòng học, một dãy nội trú cho học viên cả nam  và nữ, gói gọn không quá 10 phòng. Nhưng với tôi, dẫu trường có thế này cũng là vui lắm rồi, vì ước mơ của tôi là được đi học, được một nơi yên ổn sau những tháng ngày vô gia cư ở chốn Sài Gòn. Lúc này tôi không còn ước mơ vào cánh cổng đại học nữa, tôi đang chuyển dần sang mục tiêu mới là gắng học để được giữ lại làm giảng viên của trường. Nhưng tôi không hiểu được để hiện thực ước mơ đó, đòi hỏi mình phải có nhiều thứ, sự nỗ lực là tất yếu, nhưng vẫn chưa đủ, cái thiếu mà khó khắc phục nhất là gia đình tôi xuất thân từ tiểu nông, không có nhiều công lao cho cách mạng.
Một tháng đầu nhập học, sự háo hức của tôi cũng dần dần suy giảm, học viên của trường là cán bộ ở các xã, họ lớn tuổi và đã có thu nhập ổn định từ công việc. Trường hợp mới rời ghế nhà trường phổ thông như tôi chỉ có vài bạn, nhưng cũng không thể thân thiết với ai, bởi tôi không tìm kiếm một ai đó cùng giống suy nghĩ với mình. Nhiều người trong số họ nhận thức việc đi học là một sứ mệnh của cơ quan, họ không có nhu cầu đi học mà học vì sự nghiệp, vì thăng tiến hơn là muốn khám phá tri thức. Chế độ đi học là rất cao, ngoài lương tại cơ quan, họ còn được hưởng tiền tàu xe, công tác phí và được trường bao cấp 210.000 đồng tiền ăn, số tiền nhà trường cấp nó vừa đủ cho ngày 2 bữa cơm thời đó, tương đương với 30.000 đồng/ngày, còn lại lương được dôi ra họ chi tiêu vào những khoản khác, những tiệc rượu được thường xuyên diễn ra, cứ trung bình  hai ngày một “độ nhậu”, đó là những gì mà các học viên khác được hưởng, còn tôi chỉ duy nhất có được khoảng hỗ trợ của nhà trường, không có gói viện trợ nào khác từ cơ quan hay gia đình, vì mình xin đi học, chứ không phải là cán bộ được cử đi học.
Con số 210.000 đồng được cấp nhưng trên thực tế tôi chỉ nhận được 180.000 đồng, vì tiền quỹ lớp là 30.000 đồng đã bị cắt từ trước khi số tiền này đến tay. Nhưng có thể với ai thì đó là sự khó khăn để xoay sở, chứ riêng tôi nó là cả một niềm hạnh phúc, vì sau mấy tháng lận đận không nơi nương náu, không có khoảng thu nhập nào, những bữa ăn thiếu hụt diễn ra đều đặn thì giờ đây tôi như được sống một đời sống đàng hoàng hơn.
Tuy nhiên, giá như tôi bằng lòng với hiện tại thì tôi đã không phải vất vã. Lịch học ở trường cứ vài tuần là cho nghỉ vài tuần, thời gian nghỉ hoàn toàn không nhận được khoản tiền hỗ trợ, tôi lại bị đói. Tất cả những người khác họ về cơ quan tiếp tục công tác, còn tôi vẫn ở lại trường, lang thang, vất vưởng vì biết đi về đâu đây, khi nhà không có, hay nói chính xác là không nơi nào cho mình nương náu. Tôi lóe lên ý nghĩ xin việc làm, tìm một nơi nào cần bán hàng, hay quán ăn uống để tiếp họ. Nhưng sau đó tôi nhận ra dù tôi chưa là cán bộ, nhưng học trong trường cán bộ thì mọi việc được kiểm soát rất kỷ, nhất là nơi đã đưa mình đi học.
Thấm thoát cũng vài tháng trôi qua, trường chúng tôi lại có một khóa học viên mới nhập học, so với lớp học cũ của tôi, lớp này toàn học sinh cấp 3 mới tốt nghiệp, hình thức đào tạo này gọi là lớp tạo nguồn, họ rất trẻ trung và dễ gần, có lẽ họ cùng trang lứa với mình nên dễ tìm được sự gần gũi. Nhưng ở đời thật là khó hiểu, một vài người trong lớp không ưa tôi, vì họ cho mình là xa rời tập thể khi đi chơi nhiều với các bạn khóa mới, nghe được những điều ấy tôi không biết cách gì để phản ứng, hay nói chính xác là với khả năng sống chưa cao, tôi bị sốc.
Từ đó tôi cũng giảm hẳn các cuộc vui, sống cô lập. Những lúc rãnh rang, tôi lựa chọn niềm vui bên ngoài, tìm đến các bạn thời phổ thông đang học ở các trường cao đẳng lân cận như trường sư phạm, hay cộng đồng. Và dường như đó là một cái duyên cớ, khi đến nơi đây chơi, được sống trong không khí học tập đúng nghĩa, sự cháy bỗng, rạo rực về học tập lại bùng cháy. Tôi không thể nào quên cô bạn thời phổ thông đang học cao đẳng ngành công nghệ tin học tại trường cao đẳng cộng đồng, cô không là người yêu, chỉ là bạn thân nhưng cô ấy có thể bỏ ra hàng giờ để ngồi nói chuyện với tôi, những điều cô bạn nói cứ như bạn đi từ trong suy nghĩ của tôi mà ra vậy, nuốt trọn từng câu từng chữ, và hình như bạn là người duy nhất đứng về phía tôi trong giai đoạn đó, bạn khuyên tôi cứ làm theo điều mình đam mê, thế thôi!
Vâng, cứ làm theo điều mình mong muốn. Tôi đón xe bus về lại Hòn đất. Phủi lớp bụi bám trên những quyển sách một thời gắn bó, đó là những sách luyện thi đại học, nhìn lại quyển lịch sử một thời là bạn tri kỷ, tôi ôm nó vào lòng, xếp gọn gàng chuẩn bị cho một hành trang mới, một dự định mới. Và lường trước những ngày khó khăn sắp tới, tôi mon men vào nhà cô bạn gái, đó là người tôi từng ngỏ lời yêu đương, cô học sau tôi một lớp phổ thông, thời điểm đó cô là học sinh lớp 12, gia đình cô ấy khá giả, nhà cửa đàng hoàng và đó cũng là một trong những lý do làm mình e ngại cho chuyện chính thức đeo đuổi, không hiểu sao cái tính không thích người giàu lại có trong con người mình, luôn tồn tại một suy nghĩ người giàu thường không tốt, một lời tỏ tình trước đây đã có dịp thổ lộ, dù chưa trả lời chính thức nhưng cô vẫn không quá phản ứng gay gắt với mình, ngược lại cô tỏ ra quan tâm với những gì mình làm, có điều là cô ấy vốn ít nói, nên sự động viên bằng hành động không đủ làm tôi yên tâm. Tôi vào đó, để mượn một chiếc xe đạp, vì những ngày tháng sắp tới, tôi biết mình cần nó.
Quảng đường hơn 30km từ Hòn đất ra Rạch Giá lóc cóc trên chiếc xe đạp hư, hai bàn đạp nặng trịch, lấy hết sinh lực của chàng thanh niên tôi cũng đã hoàn thành một cách đầy mệt mõi.
Dự tính là vậy, nhưng ra Rạch Giá, tôi chủ yếu tự ôn luyện. Trường Chính trị thời đó có một căn nhà lá bỏ không phía sau hè, đó là căn nhà của một người người phụ nữ, cô bằng tuổi mẹ tôi, cô là người giữ xe cho học viên trong trường, bên cạnh cô còn có một đứa con trai bằng tuổi tôi, anh chàng này sau đó đã giúp tôi rất nhiều trong nhiều việc, biết được dự định của mình, hắn ta đã đưa hẳn chìa khóa căn nhà đó cho tôi giữ, để tiện bề lui tới. Cuộc đời đúng là trong cái rủi có cái may, căn nhà đó là nơi nghỉ ngơi trưa của gã, vì bên ngoài hắn có căn nhà lớn hơn, và chính nơi đây là là nơi tốt nhất cho tôi “nhồi óc” tất cả những giai đoạn trong quyển lịch sử Việt Nam, những tác phẩm văn chương và những biểu đồ trong địa lý, lần lượt được tôi nhét vào đầu mọi lúc mọi nơi, cả khi ăn và trước lúc ngủ.
Lúc này, có nhiều sự việc đến với tôi, hình như cái chuyện tách ra ở riêng một cõi đã làm nhiều người trong lớp nghiệp vụ đoàn không ưa, họ báo cáo với lãnh đạo nhà trường về một trường hợp cá biệt là tôi, những hành vi như xa rời tập thể, không đoàn kết với anh em, nào là lập trường tư tưởng không vững, giao động trước mục tiêu vì đứng núi này trông núi nọ…sự việc này rốt cuộc cũng đến tai của Huyện ủy Hòn Đất, có điều lãnh đạo huyện là người cũng không đến nổi khó chịu, họ không xem sự việc này làm quan trọng, nhưng cũng không quên báo lại với các anh trai tôi. Một buổi chiều tháng 6, tôi nhớ rất rõ, các anh tôi đi ra thăm mà không báo trước, vì thời đó không có điện thoại di động, nên việc liên hệ rất khó khăn, họ chạy qua khu nội trú của học viên không tìm được, và ai đó đã hướng dẫn tìm đến căn nhà trống phía sau hè nhà trường, các anh nhìn tôi, tôi nhìn các anh mà cũng không biết diễn tả thế nào. Trên các khuôn mặt đó không toát lên một nổi niềm gì rõ nét, khó chịu cũng không, hài lòng cũng không, các anh bình thản, không trách cứ cũng không hỏi han. Anh trai tôi buông một câu: “Sao ốm nhom vậy?”, vậy thôi, và hình như sau đó tôi còn được anh nói là: “Huyện ủy đã biết được chuyện của em, việc đi học lái xe là không có gì cấm, nhưng phải xin phép” – Tôi chưng hửng vì không biết dựa vào đâu, nghe ai nói mà cho rằng tôi đi học lái xe 4 bánh, thật nực cười trong bụng và rõ ràng là cái chuyện xã hội, nó cứ thêu dệt và hư cấu. Tôi phì cười và trả lời : anh nghĩ là em có tiền để đi học lái xe à?
Câu chuyện này không đi về đâu sau đó, mọi thứ im ắng, nhưng tôi cũng rất mừng vì việc ôn thi của mình cho đến thời điểm này không một ai phát hiện. Tôi mừng, và nhớ lại câu nói của anh, sao ốm nhom vậy, không ốm sao được khi thời điểm đó, tôi ăn uống rất kham khổ, phía sau hè nhà trường có một ao rau muống, và đó là nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu cho tôi 3 tháng trước kỳ thi đại học, bữa rau luộc, bữa rau xào, bữa ăn sống…số tiền nhà trường hỗ trợ chỉ còn đủ mua gạo, và dành dụm chút ít để chuẩn bị cho kỳ thi đại học sắp tới.
Và không biết vì sao, trong cái thân hình gầy guộc đó, một sức mạnh ý chí ở đâu lại mạnh mẽ đến kinh khủng, tôi đã học và học không ngơi nghỉ. Ngay cả trong giấc ngủ, tôi còn chiêm bao được đi học đại học, thường xuyên những hình ảnh về một cuộc sống sinh viên cứ hiện về…nhiều lần trong giấc ngủ, tôi bổng giật mình thức giấc và hụt hẩng khi biết mình vẫn chưa phải là một sinh viên. Những lúc ấy tôi thường hay nhẩm lại những sự kiện lịch sử trong vô thức, tôi tin sức mạnh đó được hỗ trợ từ thế giới bên kia, đó là ba tôi, ông đã mất khi tôi mới 9 tuổi, và có lẽ ở bên kia thế giới, ông luôn thương tôi và gần bên tôi.
Những lúc mệt mõi, tôi lấy xe đạp chay đi thăm mấy người bạn thời phổ thông, đặc biệt nhất là cô bạn thân thiết. Một lần nọ, tôi chạy xe thư giãn nhưng thật ra là cũng kiếm chỗ để tự học, tôi thích tìm một không gian xanh, yên tĩnh cho việc học, mỗi ngày tôi lựa chọn một nơi, những nơi đến mà tôi nhớ là công viên trước Nhà thiếu nhi, nhà thờ Rạch Giá…Một lần nọ, không nhớ rõ buổi tối ấy là ngày nào, tôi lại chạy lọc cọc trên chiếc xe đạp, vòng ngang một cách tự nhiên để quẹo vào con đường ngang trung tâm luyện thi của trường Huỳnh Mẫn Đạt, trung tâm này là nơi tôi đã luyện thi hai năm về trước. Thật lạ lung, tôi nhớ là mình đã đứng chết lặng khi bắt gặp bảng hiệu “Trung tâm luyện thi ĐH, CĐ Huỳnh Mẫn Đạt”  - tôi bật khóc, những giọt nước mắt rơi một cách không kiểm soát, tôi nhìn vào bên trong cánh cổng sắt, ánh đèn neol sáng rực các dãy phòng học, cầu thang, từng tốp học trò lên xuống, họ vừa đi vừa giỡn, tốp khác thì trao đổi bài. Tôi mơ tưởng về một khung cảnh như thế, tôi ước ao được vào trong đó, được ngồi trong lớp học, được có bạn bè cùng chung chí hướng, được lắng nghe lời thầy cô…bấy nhiêu đó là đã hạnh phúc lắm. Nhưng rồi tôi cũng lấy lại hiện thực, tôi biết mình đang mơ, vì làm sao có tiền để vào đó học, học phí luyện thi thời điểm đó là ba trăm ngàn đồng cho ba môn trong một tháng (tôi không biết giá vàng lúc đó bao nhiêu một chỉ,  chỉ nhớ là hệ số lương cơ bản thời điểm đó là hai trăm mười ngàn) khi đóng tiền đủ thì được cấp một cái thẻ ra vào trường, mỗi lần vào sẽ được đánh một dấu check vào thẻ. Biết là vậy, nhưng làm sao có được thẻ để vào học? Tôi vòng xe về lại căn nhà lá cũ, ngay tức khắc tôi nhào xuống giường, vơ cuốn lịch sử ra ngốn nghiến. Sáng hôm sau, tôi được nghỉ học tại lớp nghiệp vụ, theo thói quen những lúc rảnh, tôi lại lấy chiếc xe đạp, để cuốn sách lịch sử và địa lý vào túi, lọc cọc chiếc xe đi tìm chỗ học, tôi lại vòng vào Nhà thờ Rạch Giá, khu nhà thờ này nằm phía sau trung tâm luyện thi đại học Huỳnh Mẫn Đạt, ngày nay thì Trung tâm này đã dời xuống khu vực Lấn biển. Tôi chọn một ghế đá phía trước nhà thờ, tiếp tục học nhưng lần này tôi như không tập trung và chợt nhớ ra một điều hết sức quan trọng, tôi nhờ về một người anh tên Phúc, anh Phúc là bạn học của anh tôi (người anh tên Hậu). Anh Phúc đã tốt nghiệp đại học, nhưng không đi làm mà chọn con đường theo đạo, anh đang tu để làm Linh mục, tôi chợt nhớ anh đang ở trong ngôi nhà thờ này. Ngay tức khắc, tôi bật dậy và đi thẳng vào bên trong nhà thờ để hỏi thăm, một người đàn ông không rõ giữ vị trí gì trong nhà thờ trả lời với tôi: Cậu Phúc đi xuống các nhà thờ ở huyện xã rồi, để giúp cho các xứ đạo, cuối tuần cậu ấy mới về lại đây. Tôi mừng không xiết, và có nhắn gửi lại với người đàn ông đó địa chỉ tôi đang ở, và nhờ ông ấy nói lại khi anh ấy quay về.
Một buổi trưa hè, tôi được một người bạn trong khu tập thể cho hay có người tìm, tôi chạy rất nhanh ra gặp người mà tôi biết chắc là anh, anh ngồi ở căn-tin, anh cười và nói rằng vừa đi ở huyện về và nhận được tin của Giang, ngay tức khắc lại thăm. Câu chuyện của chúng tôi kéo dài khoảng một giờ, vì anh có chuyện phải đi nữa, trong câu chuyện đó, chỉ một giờ thôi nhưng là quá đủ cho tôi, anh như tiếp sức mạnh cho tôi trong con đường chinh phục lại cổng trường đại học, khi nghe hết những nguyện vọng của tôi anh đã rút cái phong bì trong túi ra, đưa cho tôi, anh nói rằng trước mắt anh chỉ có bấy nhiêu, Giang đóng đỡ đi luyện thi, rồi tháng tới anh đi dạy thêm cho Giang đóng tiếp. Không thể tả nổi niềm vui vỡ òa, anh lên xe bus đi rồi mà tôi vẫn nhìn theo. Một lúc sau đó tôi mới mở phong bì ra, đúng ba trăm ngàn. Thời điểm này cũng chỉ khoảng một tháng nữa là đến kỳ thi đại học, mọi bài học lúc này hình như tôi đã thuộc hết, đến mức cứ nghĩ về nội dung nào tôi nhẩm lại y hệt, nhưng bấy nhiêu đó chưa đủ. Cái tôi cần lúc này là sự tự tin, vì đã xa trường lớp khá lâu, tôi sợ mình bị ngợp khi gặp lại phòng thi, sợ gặp những gương mặt là học trò nhưng sẽ là “đối thủ” trong kỳ thi tuyển sinh..,nên tôi quyết định đi ôn tháng cuối để lấy lại cảm giác thân quen bàn ghế,phấn bảng.
Chỉ còn cách ngày thi đại học khoảng 4 ngày, tôi hốt hoảng thật sự vì trong túi không còn tiền, mà muốn đi thi thì phải lên Long Xuyên sớm để ổn định nhà trọ, suy nghĩ nát nước mà không có cách nào để được vài trăm bỏ túi, ở chốn Rạch Giá này kiếm người quen không dễ, tôi lại nghĩ về anh Phúc, nhưng sao thấy ngại quá, một lần rồi, không lẽ thêm lần nữa. Tôi đi lang thang, quay về khu tập thể, và hình như có một phép màu nào đó rất đổi linh thiêng, sự mầu nhiệm ấy đến đúng lúc mà mãi sau này tôi nghĩ lại, chắc chỉ có đấng vô hình nào đó thương yêu mình mới giúp được. Tôi vào căn phòng của một thằng bạn chơi trong khu tập thể của trường Chính trị, tự nhiên thằng bạn này than thở với tôi: tao làm mất chiếc nhẫn rồi, có 5 phân à, không biết mất ở đâu, đeo trên tay chứ ko có tháo ra, vậy mà rớt hồi nào không hay. Nghe nó nói vậy, tôi cũng không chia sẽ gì với nó, vì lúc bấy giờ tôi không còn đủ tinh thần nữa mà chia sẽ, tôi đang tập trung cho chuyện vay nợ ai đó đi thi. Nhưng thật lạ lùng, một suy nghĩ chợt lóe lên, tôi nghĩ nhẫn đeo trên tay mà có rớt chắc là lúc rửa tay, nghĩ đơn giản vậy thôi nhưng không hiểu sao tôi đứng dậy và lẳng lặng đi vào nhà tắm, như một thế lực nào đó điều khiển tôi, không hề chủ động nhưng tôi nghĩ ngay đến cái lỗ thoát nước trong nhà tắm, tôi đưa tay vào lỗ thoát nước và chạm ngay vào chiếc nhẫn, tôi cầm lên và chợt reo thầm. Nhưng ngay tức khắc, sự đấu tranh giữa thiện và ác trong con người tôi diễn ra mãnh liệt, nên trả cho thằng bạn hay là không nên trả, không trả là không tốt, nhưng bây giờ thì mình đang cần tiền, làm sao đây? Tôi cố ngụy biện bằng cách, chiếc nhẫn do mình nhặt được chứ không có lấy trộm, nên tôi quyết định không trả (nhưng quyết định này đã khiến tôi ăn năn đến bây giờ, vì thấy mình có lỗi, bây giờ tôi cũng không biết người bạn đó ở đâu, để có thể làm chút gì đó cho đỡ sự ăn năn)
Chiếc nhẫn năm phân vàng 18k có giá hơn một trăm ngàn, cũng tạm cảm giác yên tâm.
Ngày xưa khi còn học cấp 2, gần nhà tôi ở có một ngôi tịnh thất của một sư cô về xây dựng để tu tập, nhưng sau đó khu vực ấy bị giải tỏa trả đất lại cho Nhà nước thực hiện các dự án đô thị, ngôi tịnh thất đó được bồi hoàn và phải di dời chỗ khác, nhưng sau đó tôi có nghe nói sư cô này không xây thêm cái tịnh thất nào nữa mà về ở tu tập tại chùa ni Kiên Tân ở vùng Tân Hiệp thuộc tỉnh Kiên Giang. Ngôi chùa này tôi đã từng đến và biết khá rõ, những ngày ấu thơ tôi vẫn thường  đi chùa với mấy đứa bạn trong xóm, hầu như tất cả những ngôi chùa nào trong vòng bán kính 50 cây số tôi đều đã đến. Lúc đó, tuy tuổi còn nhỏ nhưng niềm tin Phật pháp đã có, tôi đã thuộc nhuần nhuyễn khá nhiều bài kinh. Như một cơ duyên có sẵn từ đời kiếp nào, những lúc khó khăn tôi đều nghĩ về những người đã từng quen biết, tôi lại nghĩ  về ngôi chùa đó, có vị sư cô ngày xưa rất thân với tôi. Ngay tức khắc tôi lên xe bus đi thẳng về phía Tân Hiệp.
Từ vùng Rạch Giá đến Tân Hiệp mất khoảng nữa giờ xe chạy, chùa Kiên Tân đang mùa an cư kiết hạ (mùa tu tập của các tu sĩ, tổ chức vào mùa hè hằng năm), không quá khó khăn khi tôi gặp được vị sư cô thuở nào, đã hơn 4 năm rồi chúng tôi chưa gặp nhau, vị sư cô có vẻ già và gầy hơn trước. Câu chuyện cũng không thể kéo dài được vì giờ giấc nội quy trong thời gian kiết hạ rất khắt khe. Tôi cũng nhanh chóng nói rõ ý định là mong sư cô có thể giúp tôi trong cuộc thi đại học sắp tới. Lại thêm một quý nhân nữa đã hỗ trợ cho cuộc đời tôi trong thời khắc túng quẫn đó, hình như 200.000 thì phải, lâu quá nhớ không rõ lắm. Tôi cầm những tờ tiền và biết chắc nó rất ý nghĩa và tôi phải có trách nhiệm rất cao, một sứ mệnh phải đạt được trong kỳ thi đại học sắp tới.
Tôi trở về ngôi trường chính trị ngay trong buổi chiều, và chuẩn bị mọi hành trang cho cuộc lên kinh ứng thí ngay vì thời gian chỉ còn 3 ngày.
Mọi công việc diễn ra trong sự im ắng, tuyệt nhiên không một ai biết tôi đang làm gì. Tất cả sách vỡ và áo quần cho những ngày thi sắp tới, tôi xếp gọn gang vào túi xách. Và lên chiếc xe đạp lọc cọc từ 4h sáng hôm sau, tôi phải đi giờ này, vì không thể chợp mắt được nữa, tôi nôn nóng, tôi gấp rút để đến tại ngôi trường đại học mà tôi ước ao, một niềm tin mãnh liệt cho sự thành công trong tôi trổi dậy mạnh mẽ, từ Rạch Giá lên Long Xuyên, nơi có ngôi trường danh tiếng mà Gs Võ Tòng Xuân làm hiệu trưởng là 80 cây số, tôi cứ đạp xe đều đều, không hề thấy mệt, vừa đạp vừa nghĩ về những viễn cảnh tốt đẹp mà tôi sẽ có được sau kỳ thi đại học này, tôi rất tự tin và sẵn sàng cho kỳ thi, không tự tin sao được khi mà quyển lịch sử ôn tập, tôi đã nuốt trọng từng câu từng chữ, từng kiểu sơ đồ, biểu đồ trong quyển địa lý tôi chỉ nhìn sơ dạng đề là có thể vẽ rất nhanh và chính xác.
Vừa đạp xe, vừa nghĩ ngợi, lúc thì nhẩm lại những nội dung học, lúc thì nghĩ về những ngày sắp tới, rồi cười thầm như một thằng khùng trên đường giữa cái nắng trưa gắt của những ngày tháng 7 năm 2004 ấy.
Đạp xe được một đoạn thì tôi thấy hai chân mình đã đuối, những vòng xe chậm dần và mồ hồi nhễ nhại. Kinh nghiệm kỳ thi trước đây khá đắt, cho tôi biết rằng sức khỏe là quan trọng nhất trong những ngày tháng này, tôi tấp vào nhà một người dân bên đường và gửi lại chiếc xe đạp, đón chiếc xe khách về Long Xuyên.
Long Xuyên và Rạch Giá không có nhiều sự chênh lệch về giàu nghèo, hai thành phố cấp tỉnh này nhìn chung không có gì khác biệt. Bước xuống bến xe Long Xuyên tôi không phải lạc lõng, nó không làm tôi ngợp như Sài Gòn tráng lệ.
Như một duyên cớ cuộc đời, một lần nữa tôi tìm đến một ngôi tịnh xá để xin tá túc qua đêm. Cổng chùa luôn mở cho những ai muốn vào, tôi nghĩ thế và thông qua những mối quan hệ quen biết, tôi được sư trụ trì cho mượn một căn phòng khá sạch sẽ. Mọi thứ diễn ra thuận lợi đến mức tôi cứ nghĩ cha tôi đang hộ tống cho cuộc chính chiến lần này của con trai ông. Cơm nước ở tịnh thất tuy thức ăn chay, nhưng như thế là quá đủ với một thằng như tôi, đi thi chỉ có 350.000 trong túi.
Kỳ thi đại học diễn ra trong sự thuận lợi khá lớn, không hiểu sao đầu óc tôi minh mẫn đến mức có những kiến thức đã học từ rất lâu, nhưng tôi vẫn nhớ và thể hiện trong các bài thi văn, sử, địa. Tôi phân bổ thời gian cũng khá hợp lý, tất cả các bài thi tôi đều làm trọn vẹn trong khả năng có được, đến mức tôi nghĩ không còn gì nữa để ghi, đã viết hết những gì tôi biết.
Kết thúc kỳ thi đại học, tôi thở phào và cảm giác lâng lâng khó tả. Mục tiêu của tôi chỉ đơn giản là quay lại trường để học, học ngành nào cũng được, miễn khoác lên mình hai tiếng sinh viên. Tôi tính nhẫm những thang điểm trong bài thi, tôi chắc suất mình sẽ đậu ( ngày đó thí sinh đi thi có đến 3 nguyện vọng để đăng ký vào các ngành, nên nếu thi sinh đủ điểm sàn, không đậu ngành này thì sẽ có ngành khác học) và một cảm giác lâng lâng cứ thoang thoảng trong người tôi.
Tôi quay về Rạch Giá với sự tự tin vốn có. Lịch học tại trường chính trị không phải thường xuyên, có tuần học tuần nghỉ, và thời gian nghỉ tôi cũng không biết làm gì, mọi chuyện học hành giờ đã gác lại. Tôi muốn làm điều gì đó cho mọi người khi đang rảnh rỗi. Tôi đón chiếc xe bus xuống Trung tâm nuôi dạy trẻ thiệt thòi của chùa Phật Quang, tôi muốn làm việc gì đó để cám ơn cuộc đời đã giúp tôi. Nhanh chóng tôi được nhận vào lớp dạy kèm các em tình thương, hơn một tháng trong trường, tôi đã có nhiều kỷ niệm với các em, tôi dạy đủ môn, và bắt đầu yêu thích nghề dạy học từ lúc nào. Thời điểm này sắp có kết quả kỳ thi đại học, lần lượt những trường ở thành phố Hồ Chí Minh đã đăng trên báo, niềm hạnh phúc chỉ có được khi chắc chắn tên mình phải nằm trong danh sách trúng tuyển của trường.  Những ngày đó, chiều nào tôi cũng chạy ra Rạch Giá để tìm mua báo, xem kết quả có tên mình không. Một niềm vui vỡ òa khi thấy tên Nguyễn Xuân Giang được 14,5 điểm trong danh sách thí sinh đạt điểm cao tại trường Đại học An Giang. Tôi không dám tin vào sự thật, mặc dù đã khá tự tin trước đó, tôi nhìn đi nhìn lại bảng danh sách trên báo nhưng cũng chưa tin hẳn, tôi sợ mọi thứ có sự nhầm lẫn nào đó, to dò đến trên mười lần có thể để kiểm tra thông tin. Đậu rồi! mừng quá.
Tôi mua tờ báo đem về nhà, nhưng một chút do dự cho việc có nên cho mọi người trong gia đình biết hay không. Tôi sợ ước mơ của mình sẽ bị dập tắt bởi một quyết định nào đó của những người anh trên của tôi,tôi sợ một ai đó ngăn cản con đường đến trường đại học của tôi, bởi gia đình tôi, quyền huynh thế phụ vẫn còn nguyên giá trị. Chỉ cần một ai đó nói không đủ khả năng lo cho chuyện học, lập tức các anh còn lại sẽ đồng ý ngay, gia đình tôi là vậy. Trong khi tôi vẫn chưa bản lĩnh lắm cho sự tự quyết cuộc đời mình. Tôi giấu tờ báo mấy ngày sau, mới đem ra nói với người anh thứ năm trong gia đình, trái với những gì tôi đoán, anh tỏ ra bất ngờ và vui mừng khôn xiết. Anh hoàn toàn ủng hộ tôi và







Bài viết liên quan: